1. Idaṃ kho pana bhikkhave dukkhaṃ ariya-saccaṃ, jāti pi dukkhā, jarā pi dukkhā, vyādhi pi dukkho, maraṇam-pi dukkhaṃ, appiyehi sampayogo dukkho, piyehi vippayogo dukkho, yam-picchaṃ na labhati tam-pi dukkhaṃ, saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā. 2. Idaṃ kho pana bhikkhave (refrain: Idaṃ kho pana bhikkhave) dukkhasamudayaṃ ariya-saccaṃ yā yaṃ taṇhā ponobhavikā, nandirāgasahagatā, tatratatrābhinandinī, seyyathīdaṃ: kāmataṇhā, bhavataṇhā, vibhavataṇhā. *************************3. Idaṃ kho pana bhikkhave (refrain: Idaṃ kho pana bhikkhave) dukkhanirodhaṃ ariya-saccaṃ: yo tassā yeva taṇhāya asesavirāganirodho cāgo, paṭinissaggo, mutti, anālayo. *************************4. Idaṃ kho pana bhikkhave (refrain: Idaṃ kho pana bhikkhave), dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariya-saccaṃ: Ayam-eva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathīdam: sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi.

         1. Ðây là Thánh đế về Khổ, ...... này các Tỷ-kheo........ Sanh là khổ,....già là khổ,........ bệnh là khổ,........ chết là khổ,................oán gặp nhau là khổ,..............ái biệt ly là khổ,...................cầu không được là khổ....................................Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ........................................2. Ðây là Thánh đế về Khổ tập,.........này các Tỷ-kheo,...chính là ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia..................Tức là dục ái,.......hữu ái,.....phi hữu ái. *************************3. Ðây là Thánh đế về Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, chính là ly tham, đoạn diệt, không có dư tàn khát ái ấy, sự quăng bỏ, ..từ bỏ, ...giải thoát, ...không có chấp trước. *************************4. Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, ...............chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là: .........chánh tri kiến, ......chánh tư duy, .....chánh ngữ, ..........chánh nghiệp,........chánh mạng, ...chánh tinh tấn, ...chánh niệm, ....chánh định. (Bản dịch của Ngài Minh Châu)

         

        Nguyên lai, Phật giáo chỉ có một. Từ sau ngày Phật tịch, chính do nhiều nguyên nhân tiêu tích như căn tánh sai biệt của chúng sinh và cả nhu cầu hoằng đạo của người truyền thừa mà Phật giáo nảy ra nhiều nhánh. Từ những sai biệt cơ tánh đã đưa đến cái đa đoan trong nhận thức và từ đó là những dị biệt trong hành trì, rồi thì tính muôn màu trong tông chỉ. Tính đến nay, ta khó mà đưa ra một con số chính xác về các nhánh Phật giáo đang lưu hành trên toàn cầu. Đông thì có hàng triệu tín đồ, ít thì có thể chỉ là một nhóm mươi người. Do đó, cách đơn giản mà cũng khoa học nhất để liệt kê các bộ phái là dựa vào hệ thống giáo nghĩa của từng nhánh. Cái gọi là hệ thống giáo nghĩa ấy chính là các bộ thánh điển mà nay tạm thời ta có thể kể là Hán Tạng của Trung Quốc, Tam Tạng tiếng Pàli của dòng Phật giáo Nam Truyền hay Nam Tông, Nam Phương (chủ yếu ở các xứ Tích Lan, Cao Miên, Thái Lan, Ai Lao, Miến Điện) và hệ thống giáo nghĩa thứ ba cũng vẫn được xem là một trong những khuôn mẫu của người học Phật xưa giờ là kinh điển Tạng Ngữ, vốn cũng đi ra từ một nguồn Bắc Tạng Sanskrit như Hán Tạng, nhưng tự có riêng những đặc sắc không có ở đâu.


Bên cạnh Phật giáo Bắc Truyền đã có ở Bắc Việt trên ngàn năm nay, Phật giáo Nam Tông (hay cũng có thể gọi là Phật giáo Pàli) cũng đã có mặt ở lục tỉnh Nam Bộ không dưới hai ngàn năm từ thời văn hoá Óc-Eo. Do nhiều nguyên nhân về cả điều kiện sinh hoạt lẫn văn hoá, người Việt ta xưa giờ hiếm người mặn mà với Phật giáo Nam Phương, hệ thống giáo nghĩa vẫn bị giới Bàn-Môn (Bà-La-Môn) đánh phá khá thành công bằng cái tên gọi Hìnayàna (Tiểu Thừa). Có biết bao người Việt chưa chạm tay đến kinh điển Pàli cũng vì cái tên gọi phản cảm đó mà từ chối nghiên cứu hệ thống kinh điển này. Đại sư Ấn Thuận của Đài Loan từng có câu cảm thán tâm huyết rằng cái bi kịch lớn nhất của Phật giáo Trung Hoa là chỉ vì cái tên gọi Tiểu Thừa kia mà Phật tử xứ này đã bỏ qua các bộ A-Hàm, một bộ phận Hán Tạng rất gần gũi với Tam Tạng Pàli. Non thế kỷ trước, học giả Lương Khải Siêu cũng từng nói câu tương tự: Muốn tìm hiểu cái nguồn của Phật giáo thời Phật thì chỉ có cách nghiên cứu các bộ A-Hàm !


Trong điều kiện truyền thông hiện đại, tên gọi Nam Tông nay đã được khá nhiều người Việt biết tới và quan tâm. Nhưng người vào Internet để tìm hiểu về dòng Phật giáo này tạm thời vẫn chưa biết  đến các Website Nam Tông có tên gọi kém phổ biến, thế là rối. Sau nhiều đắn đo, chúng tôi quyết định tạo thêm một địa chỉ khác của trang gốc Luy Lâu để lắp đầy chỗ trống này. Mục đích của việc làm đó chỉ là mong người học Phật xứ mình đừng bao giờ là kẻ bàng môn chỉ vì mắc bẫy Bàn-Môn.
Từ những điều  vừa thưa trên đây, kể từ hôm nay, địa chỉ www.luylau.com  cũng là www.namtong.orgwww.namtong.net. Một bước chân thôi, sao chẵng một lần xoay người để nhận mặt anh em. Mong thay !


Người Chủ Trương Trang Luy-Lâu